Đang tải dữ liệu...

Bảng cân đôí kế toán

05/07/2011

krongboy22

7 bình luận

9039 lượt xem

Lớn | Vừa | Nhỏ

Bảng cân đôí kế toán

Để  phục vụ cho công tác quản lý tài chính thì đơn vị cần phải có các tài  liệu tổng hợp phản ánh toàn bộ hoạt động của mình. Các tài liệu tổng hợp  không chỉ cần cho bản thân đơn vị mà còn cần thiết cho những đối tượng  có quyền lợi trực tiếp hoạc gián tiếp đối với đơn vị, và những ai có  quan tâm đến hoạt động của đơn vị

Việc  phản ánh vào sổ sách kế toán mới chỉ phản ánh được từng loại tài sản,  từng loại nguồn vốn cũng như từng mặt riêng biệt của quá trình hoạt động  của mỗi đơn vị. Các tài liệu này mặc dù rất cần thiết cho công tác quản  lý, song yêu cầu tổng hợp từ các sổ kế toán thành hệ thống các chỉ tiêu  tổng hợp là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng về mặt quản lý tài chính.  Các thông tin tổng hợp được gọi là các thông tin tài chính mà công tác  kế toán phải có trách nhiệm cung cấp một cách kịp thời, chính xác trung  thực.

Do  tính chất tổng hợp của các thông tin tài chính nên số liệu được sử dụng  để xác lập các chỉ tiêu tổng hợp đều được biểu hiện dưới hình thức tiền  tệ (chỉ sử dụng duy nhất thước đo bằng tiền).

Cân  đối là tính chất vốn có gắn liền với đối tượng mà kế toán phản ánh và  giám đốc biểu hiện qua mối quan hệ giữa tài sản và nguồn hình thành nên  tài sản, ngoài ra nó cần được biểu hiện thành những quan hệ cụ thể bên  trong của bản thân tài sản, bản thân nguồn vốn và mối quan hệ giữa chúng  với nhau trong quá trình vận động. Có thể đưa ra một vài ví dụ:

Giá trị hiện còn lại của tài sản cố định = Nguyên giá - Giá trị hao mòn

Số dư đầu kỳ + Số phát sinh tăng trong kỳ = Số dư cuối kỳ + Số phát sinh giảm trong kỳ

Tính  cân đối của kế toán còn bắt nguồn từ phương pháp ghi sổ kép để phản ánh  mối quan hệ giữa các đối tượng kế toán gắn liền với nghiệp vụ kế toán  cụ thể: ghi nợ phải đi đôi với ghi có và số tiền phải luôn luôn bằng  nhau, tổng số phát sinh bên nợ của các tài khoản= tổng số phát sinh bên  có của các tài khoản.

Ngoài  ra tính cân đối còn xuất hiện thông qua việc tổng hợp các quá trình  hoạt động của doanh nghiệp để cung cấp các thông tin tài chính nhằm phản  ánh tổng quát tình hình và kết quả hoạt động của đơn vị. Có thể nêu một  vài cân đối thuộc dạng này:

Luồng tiền tệ ở đầu kỳ + luồng tiền tăng thêm trong kỳ = luồng tiền giảm xuống trong kỳ + luồng tiền hiện có cuối kỳ

Doanh thu thuần = Giá vốn hàng hoá + Chi phí bán hàng và quản lý + Kết quả kinh doanh.

Tính  cân đối tồn tại khách quan gắn liền với đối tượng kế toán và sự vận  động của đối tượng kế toán, nó cũng tồn tại khách quan trong quá trình  tổng hợp thông tin. Tính tổng hợp là yêu cầu khách quan trong hoạt động  quản lý nói chung và quản lý tài chính nói riêng. Tính tổng hợp của  thông tin kế toán không thể tách rời đối tượng kế toán và sự vận động  của nó. Do vậy, tổng hợp cân đối là hai mặt khác nhau của phương pháp kế  toán, chúng tồn tại đồng thời và quan hệ mật thiết với nhau biểu hiện  bức tranh toàn cảnh về kết quả hoạt động của đơn vị.

Phương  pháp tổng hợp cân đối được biểu hiện thông qua hệ thống các báo cáo kế  toán. Theo qui định hiện nay, báo cáo kế toán tài chính định kỳ bao gồm:

· Bảng cân đối kế toán.

· Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.

· Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.

· Bảng thuyết minh bổ sung.

Sau  đây sẽ giới thiệu 2 báo cáo biểu hiện tập trung tính tổng hợp - cân đối  của kế toán: Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh  doanh.

Bảng cân đôí kế toán

Khái niệm:  Bảng cân đôí kế toán là một bảng báo cáo tài chính tổng hợp dùng để  khái quát toàn bộ tài sản và nguồn hình thành tài sản đó tại một thời  điểm nhất định.

Biểu hiện phương pháp tổng hợp cân đôí.

Giá trị biều hiện: Tiền.

Tại một thời điểm nhất định.

· Đặc điểm:

· Số liệu chỉ phản ánh tình trạng tài chính tại thời điểm lập báo cáo.

· Có tính tổng kết toàn bộ giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản sau một quá trình sản xuất kinh doanh.

Tác dụng:

· Thấy được toàn bộ giá trị tài sản hiện có, hình thái vật chất của tài sản, nguồn hình thành tài sản đó.

· Đánh giá khái quát tình hình tài chính, sự biến động tăng giảm của nguồn vốn chủ sở hữu.

Nội dung và kết cấu của bảng:  Xúât phát từ yêu cầu biểu hiện hai mặt khác nhau của tài sản trong  doanh nghiệp: Tài sản gồm những gì và tài sản do đâu mà có nên kết cấu  của bảng được xây dựng theo 2 bên hoặc hai phần:

A, PHẦN TÀI SẢN:  phản ánh giá trị tài sản hiện có tại thời điểm lập báo cáo của tất cả  đôí tượng thuộc nhóm tài sản (theo tính lưu động giảm dần). Phần tài sản  được chia làm 2 loại lớn:

· Tài sản ngắn hạn.

· Tài sản dài hạn.

B, PHẦN NGUỒN VỐN:  phản ánh giá trị tài sản hiện có tại thời điểm lập báo cáo của tất cả  đôí tượng thuộc nhóm nguồn vốn theo thời hạn thanh toán tăng dần. Phần  nguồn vốn được chia làm 2 loại lớn:

· Nợ phải trả.

· Nguồn vốn CSH.

Trong  từng loại còn chia thành nhiều mục, nhiều khoản để phản ánh chi tiết  theo yêu cầu quản lý chung theo những quy định và sắp xếp thống nhất.

Hai  bên của bảng phản ánh hai mặt khác nhau tài sản trong doanh nghiệp nên  giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Xét về mặt lượng thì bao  giờ cũng có:

Tài sản

=

Nguồn vốn

Tổng tài sản

=

Nợ phảI trả + Nguồn vốn chủ sở hữu

Tính bằng nhau biểu hiện tính cân đối. Tính cân đối là tính chất cơ bản của Bảng CĐKT.

VD: Phân biệt tài sản và nguồn vốn cho một cho một doanh nghiệp theo các thông tin sau (Lập bảng cân đôí kế toán):

-Tiền mặt tại quỹ

30.000.000

-NVL trong kho trị giá

100.000.000

Hình thành từ: nhà nước cấp

70.000.000

Vay ngắn hạn ngân hàng

30.000.000

- Máy móc thiết bị trị giá

500.000.000

Nhà nước cấp

100.000.000

Vốn của các thành viên góp

300.000.000

Vay dài hạn

100.000.000

Xét tính cân đôí của bảng:

Khái niệm:  Nghiệp vụ kinh tế phát sinh là sự kiện làm biến động tài sản, nguồn vốn  trong doanh nghiệp. Điều kiện đề là nghiệp vụ kinh tế: liên quan đến ít  nhất hai đôí tượng kế toán và phải có giá trị cụ thể.

Trong  quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, các loại tài sản và nguồn vốn  luôn biến động (tãng lên hoặc giảm xuống) do tác động của các nghiệp vụ  kinh tế. Vậy sự biến động của tài sản và nguồn vốn có làm phá vỡ tính  chất cân đôí của bảng cân đôí kế toán?

Tài sản

SDĐK

Nguồn vốn

SDĐK

A.TS NGẮN HẠN

165.000.000

A.NỢ PHẢI TRẢ

75.000.000

Tiền mặt

20.000.000

Vay ngắn hạn

30.000.000

Tiền gởi ngân hàng

35.000.000

Phải trả người bán

35.000.000

Nguyên vật liệu

50.000.000

Phải nộp nhà nước

10.000.000

Công cụ dụng cụ

10.000.000



Thành phẩm

50.000.000



B.TS DÀI HẠN

70.000.000

B. NGUỒN VỐN CSH

160.000.000

TSCĐ hữu hình

100.000.000

Vốn kinh doanh

140.000.000

Hao mòn TSCĐHH

(30.000.000)

Quỹ

20.000.000

TổngTài sản

235.000.000

Tổng Nguồn vốn

235.000.000

Mặc  dù các nghiệp vụ kinh tế đa dạng nhưng nói chung ảnh hưởng của chúng  lên tài sản và nguồn vốn làm thay đổi bảng không ngoài 4 trường hợp sau:

· Trường hợp 1: liên quan 2 khoản mục một bên Tài sản: khoản mục này tăng, khoản mục kia thì giảm.

Vd: Rút tiền gởi ngân hàng 5trđ nhập quỹ tiền mặt.

Phân tích: Tiền gởi ngân hàng giảm 5trđ

Tiền mặt tăng 5 trđ

· Trường hợp 2: liên quan 2 khoản mục một bên Nguồn vốn: khoản mục này tăng, khoản mục kia thì giảm.

Vd: DN vay ngắn hạn 10 trđ trả nợ cho người bán.

Phân tích: Vay ngắn hạn tăng:10 trđ

Phải trả người bán giảm:10 trđ

· Trường hợp 3: liên quan khoản mục hai bên bảng: các khoản mục này cùng tăng.

Vd: Mua nguyên liệu nhập kho chưa trả tiền người bán 20trđ.

Phân tích: Nguyên liệu tăng: 20trđ

Phải trả người bán tăng:10 trđ

· Trường hợp 4: liên quan khoản mục hai bên bảng: các khoản mục này cùng giảm.

Vd: DN sử dụng tiền gửi ngân hàng trả nợ vay ngắn hạn ngân hàng 10trđ.

Phân tích: Tiền gửi ngân hàng giảm: 10trđ.

Vay ngắn hạn giảm: 10trđ.

Nhận xét chung:

· Mỗi NVKT phát sinh liên quan ít nhất 2 khoản mục trên bảng CĐKT

· Nếu  NVKT phát sinh chỉ ảnh hưởng đến những khoản mục ở một bên của bảng  CĐKT thì số tổng cộng ở phần tài sản và phần nguồn vốn vẫn không thay  đổi (Nvụ 1 & 2).

· Nếu  NVKT phát sinh đồng thời ảnh hưởng đến những cả hai phần của bảng CĐKT  thì số tổng cộng ở 2 phần thay đổi, cùng tăng hoặc cùng giảm (Nvụ 3  & 4).

· Trong mọi trường hợp khi có NVKT phát sinh, tính chất cân đôí của bảng không bị phá vỡ nghĩa là:

TỔNG CỘNG TÀI SẢN = TỔNG CỘNG NGUỒN VỐN

Tags: , , , ,
Avatar thành viên

hay

Vào lúc 15:22 11/20/2012

gringringringringringrin
Avatar thành viên

fe

Vào lúc 15:22 11/20/2012

anger
Avatar thành viên

haiphong

Vào lúc 21:26 03/11/2012

giup toi voi
Avatar thành viên

haiphong

Vào lúc 21:26 03/11/2012

sao ko ai tra loi vay
Avatar thành viên

haiphong

Vào lúc 21:25 03/11/2012

toi muon giup toi vi toi lap bnag can doi tai khoan khong can
Avatar thành viên

noname

Vào lúc 16:13 06/22/2011

tai sao k jai dap nhug thac mac mot cak cu the chu.
Avatar thành viên

p

Vào lúc 20:52 05/19/2011

bang bao cao tinh sai
Phân trang 1/1 Trang đầu 1 Trang cuối
Viết nhận xét

Tên gọi

Địa chỉ web

Email

HTML code BBcode Mặt cười Ẩn giấu Hãy nhớ [Đăng nhập] [Đăng ký]
               
emotemotemotemotemotemotemotemotemotemotemotemotemotemotemotemotemotemotemotemotemotemotemotemotemot